5:35 PM, 26/11/2015

Quyết định của Thủ tướng “giải quyết căn bản các nút thắt”

(Chinhphu.vn) - Ý kiến chuyên gia đánh giá Quyết định mới đây của Thủ tướng đưa đến khả năng giải quyết căn bản các nút thắt trong việc kéo giảm thời gian thông quan hàng hóa, nhưng việc triển khai cần sự vào cuộc rất trách nhiệm của các Bộ.

Bà Nguyễn Minh Thảo tại hội thảo về 6 tháng triển khai Nghị quyết 19 năm 2015 của Chính phủ. Ảnh: CIEM

“Việc đưa ra danh mục gồm 87 văn bản quy phạm pháp luật cần sửa đổi, bổ sung là một nỗ lực rất lớn của Chính phủ và Bộ Tài chính”, bà Nguyễn Minh Thảo, Phó Trưởng ban Môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, nhận định về Đề án Giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu vừa được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phê duyệt.

“Danh mục này là phần rất quan trọng trong Đề án. Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan đã nỗ lực rất lớn trong việc tìm ra các vướng mắc để có thể kịp thời đơn giản hóa các thủ tục kiểm tra chuyên ngành”, bà Thảo nói.

Trong các giải pháp mà Đề án đưa ra, theo bà, đâu là giải pháp đáng chú nhất?

Đó là yêu cầu rà soát, xây dựng và ban hành đầy đủ danh mục các mặt hàng thuộc diện kiểm tra chuyên ngành, theo hướng thu hẹp diện kiểm tra chuyên ngành; xác định những mặt hàng trọng điểm cần kiểm tra tại cửa khẩu, cần kiểm tra trước khi thông quan; và những mặt hàng nào được kiểm tra chuyên ngành sau thông quan. Nghĩa là rất cụ thể. Đây là điểm mới trong Đề án, để doanh nghiệp biết rõ mặt hàng nào sẽ được kiểm tra như thế nào.

Một giải pháp khác cũng rất đáng chú ý là yêu cầu áp dụng phương pháp quản lỷ rủi ro trong kiểm tra chuyên ngành, như kiểm tra xác suất hoặc kiểm tra sau thông quan với hàng hóa có độ rủi ro thấp, hàng hóa có xuất xứ từ các nước công nghiệp phát triển, hoặc hàng hóa của doanh nghiệp tuân thủ tốt pháp luật. Cơ quan Hải quan đã áp dụng rất tốt phương pháp này, cơ quan Thuế cũng bắt đầu triển khai, bây giờ các cơ quan kiểm tra chuyên ngành cũng áp dụng là rất tốt và sẽ giảm gánh nặng kiểm tra cho cả doanh nghiệp và cơ quan quản lý. Đây cũng là chủ trương nhất quán của Chính phủ khi triển khai Nghị quyết 19 về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Đề án đưa ra danh sách 87 văn bản quy phạm pháp luật cần sửa đổi, bổ sung. Đây là một khối lượng công việc rất lớn, thưa bà?

Đề án đã chỉ ra rất rõ hướng sửa đổi, bổ sung, hướng xử lý với nhiều văn bản, nhưng nhiều văn bản chưa được chỉ ra hướng giải quyết thật cụ thể. Tất nhiên trong phần quan điểm chỉ đạo và giải pháp chung đã nêu các vấn đề nguyên tắc mà việc sửa đổi phải tuân theo, nhưng việc sửa đổi như thế nào, có đáp ứng yêu cầu hay không phụ thuộc rất nhiều vào cách xử lý của các Bộ. Tôi hi vọng các Bộ sẽ thực hiện theo đúng các yêu cầu, nguyên tắc mà Đề án đã chỉ ra.

Đề án cũng đã chỉ ra thời hạn rất cụ thể cho việc sửa đổi, bổ sung, điều này rất cần thiết. Nhưng trong khi đa số các Bộ chỉ có vài văn bản cần sửa đổi, thì Bộ NNPTNT có tới 49 văn bản và như vậy, thời hạn với họ là hơi gấp. Mặc dù theo đánh giá của chúng tôi, Bộ NNPTNT là một trong những Bộ quyết liệt nhất, cầu thị nhất trong quá trình triển khai Nghị quyết 19, từ Bộ trưởng cho tới các vụ, cục. Các văn bản mà Bộ này đã sửa đổi cũng cơ bản đáp ứng được mong muốn của doanh nghiệp, chẳng hạn mới đây nhất là Nghị định số 36 năm 2014 về chế biến, xuất khẩu cá tra.

Tất nhiên, cũng có thuận lợi là đa số các văn bản trong danh mục cần sửa đổi đều là thông tư, quyết định của cấp Bộ, chỉ có một vài Nghị định, nên việc sửa đổi hoàn toàn thuộc thẩm quyền của từng Bộ và thực hiện cũng dễ dàng hơn, nhưng đây vẫn là một thách thức và đòi hỏi nỗ lực rất lớn.

Hơn nữa, Đề án yêu cầu sửa đổi cùng lúc 87 văn bản, nghĩa là rất rộng, có thể tạo được áp lực chung để các cơ quan liên quan đều thấy được phải thay đổi, nhưng cũng có thể dẫn đến nguy cơ khó đánh giá đầy đủ việc sửa đổi, bổ sung. Có lẽ trước mắt nên tập trung vào một số vấn đề bức xúc nhất hoặc liên quan đến nhiều doanh nghiệp, chẳng hạn như lĩnh vực dệt may, thủy sản hay thép… thì sẽ dễ giám sát và đánh giá hơn.

Đề án cũng giao Bộ Tài chính thành lập tổ công tác liên ngành do lãnh đạo Bộ Tài chính làm Tổ trưởng để theo dõi, đôn đốc việc triển khai Đề án. Đây là việc hết sức cần thiết, nhưng theo kinh nghiệm của chúng tôi thì trong Tổ công tác này, vai trò của các chuyên gia độc lập là rất quan trọng, bởi họ tâm huyết, có chuyên môn sâu và có tiếng nói độc lập. Đây là cũng vấn đề rất quan trọng để có thể đánh giá khách quan, chính xác về các văn bản mới so với các văn bản cũ, xem có đáp ứng được yêu cầu mà Đề án đặt ra hay không.

Bà đánh giá việc triển khai Đề án sẽ mang lại hiệu quả như thế nào khi các giải pháp được triển khai đầy đủ?

Đây là các văn bản mà Hải quan đã phối hợp với các bên liên quan rà soát và thấy rằng còn vướng mắc, chưa tạo thuận lợi cho doanh nghiệp. Do đó, nếu sửa đổi, bổ sung được các văn này theo đúng yêu cầu của Đề án, như triển khai quản lý rủi ro, đơn giản về thủ tục và xác định rõ trách nhiệm của các bên, thì sẽ tạo thuận lợi rất lớn cho doanh nghiệp, giải quyết được căn bản các nút thắt trong thủ tục quản lý chuyên ngành hiện nay.

Và sẽ còn thuận lợi hơn nữa khi tất cả các thủ tục theo các văn bản này được kết nối với Hải quan, ví dụ nhập khẩu sữa hiện chịu sự kiểm tra chuyên ngành của 3 Bộ, gồm kiểm dịch của Bộ NNPTNT, kiểm tra an toàn thực phẩm của của Bộ Y tế và Bộ Công Thương, nếu có thể kết nối trực tiếp đến với Hải quan thì doanh nghiệp chỉ cần gửi hồ sơ một lần, sẽ “cởi trói” cho doanh nghiệp rất nhiều.

Cuối cùng, tôi cho rằng vai trò của người đứng đầu là cực kỳ quan trọng. Bởi cùng triển khai Nghị quyết 19 thì có nhiều Bộ làm tốt, nhiều Bộ lại chậm trễ hơn. Nếu người đứng đầu quyết liệt, nghiêm túc thì việc triển khai Đề án là hoàn toàn khả thi, đạt kết quả.

Xin trân trọng cảm ơn bà.

Hà Chính 
(thực hiện)

Viết bình luận

Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi xuất bản