11:13 AM, 11/12/2014

Toàn văn Báo cáo giải trình và trả lời chất vấn trực tiếp của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng

(Chinhphu.vn) - Cổng TTĐT Chính phủ trân trọng giới thiệu toàn văn nội dung Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trực tiếp trả lời các câu hỏi và làm rõ thêm nhiều vấn đề mà các đại biểu Quốc hội quan tâm chiều 19/11.

TOÀN VĂN BÁO CÁO GIẢI TRÌNH VÀ TRẢ LỜI CHẤT VẤN

TRỰC TIẾP CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ NGUYỄN TẤN DŨNG

Tại Kỳ họp thứ 8, Quốc hội Khóa XIII

Hà Nội, ngày 19 tháng 11 năm 2014

_________

 

    Sau khi báo cáo giải trình về những vấn đề mà nhiều Đại biểu Quốc hội và Đồng bào cử tri quan tâm, chất vấn (xem toàn văn Báo cáo tại đây). Thủ tướng Chính phủ đã trả lời các câu hỏi của Đại biểu Quốc hội tại hội trường. Cổng Thông tin Điện tử Chính phủ xin trân trọng giới thiệu toàn văn trả lời chất vấn trực tiếp của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

    Thưa Quốc hội,

    Tôi cảm ơn 10 vị Đại biểu Quốc hội đã có câu hỏi chất vấn. Tôi xin trình bày về từng nội dung như sau:

    1. Về ý kiến chất vấn của đại biểu Nguyễn Thị Kim Bé

    Đại biểu nêu Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án thành lập vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long. Tuy nhiên, hiện nay từng địa phương phát triển thiếu tính liên kết, gây khó khăn cho sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Xin Thủ tướng cho biết giải pháp gì để liên kết phát triển có hiệu quả trong vùng, nhất là đầu tư có trọng điểm, tạo bước đột phá để phát triển mạnh mẽ và bền vững hơn, phát huy đúng tiềm năng thế mạnh của Vùng kinh tế trọng điểm Đồng bằng sông Cửu Long, đóng góp chung cho sự phát triển kinh tế của đất nước.

    Tôi xin trình bày như sau:

    Trong một không gian, một khu vực, một vùng có những điều kiện kinh tế - xã hội tương đồng thì yêu cầu liên kết, hợp tác là rất cần thiết - là yêu cầu khách quan để phát triển hiệu quả và bền vững. Chính phủ nhận rõ điều này. Liên kết hợp tác để phát huy tốt nhất tiềm năng lợi thế trong phát triển kinh tế - xã hội của vùng; liên kết hợp tác để đầu tư hạ tầng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng, khắc phục đầu tư trùng dẫm, lãng phí; liên kết hợp tác để cùng ứng phó, khắc phục những khó khăn, thách thức đặt ra mà riêng một tỉnh - một địa phương tự mình xử lý hiệu quả sẽ không cao. Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch 6 Vùng kinh tế và 4 Vùng kinh tế trọng điểm, trong đó có vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Đồng thời, Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ, các Bộ và địa phương xây dựng Quy chế liên kết Vùng.

    Đối với Đồng bằng sông Cửu Long, Chính phủ chỉ đạo 4 nội dung chủ yếu cần liên kết hợp tác như sau:

    Thứ nhất, các Tỉnh thành phố vùng Đồng bằng sông Cửu Long cần liên kết hợp tác để cùng đầu tư và cùng sử dụng có hiệu quả những Dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội cần thiết, trên cơ sở Quy hoạch tổng thể chung của Vùng, nhất là về: giao thông, thủy lợi, điện, viễn thông; cơ sở nghiên cứu ứng dụng khoa học, bệnh viện, trường Đại học, trường nghề có trình độ cao - chất lượng cao; nhà máy xử lý rác... để tránh đầu tư trùng lặp, lãng phí và sử dụng có hiệu quả cao hơn.

    Thứ hai, Liên kết hợp tác để phát triển tốt nhất, hiệu quả nhất ba lợi thế cũng là ba sản phẩm chủ yếu của Vùng. Một là sản xuất lúa gạo. Hai là nuôi trồng, đánh bắt, chế biến thủy hải sản. Ba là trái cây. Phải liên kết hợp tác để hình thành chuỗi giá trị từ sản xuất giống tới canh tác nuôi trồng, thu hoạch, chế biến, tiêu thụ, xuất khẩu để vừa có lợi cho người nông dân, vừa nâng cao được hiệu quả, khắc phục tình trạng manh mún, cạnh tranh không lành mạnh gây thiệt hại cho nhau. Đồng thời liên kết hợp tác để cùng nhau khắc phục những hạn chế của cả Vùng như về phát triển giáo dục, nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ và khó khăn thấp kém về kết cấu hạ tầng.

    Thứ ba, Liên kết hợp tác để sử dụng bền vững nguồn nước và ứng phó có hiệu quả với lũ ở Đồng bằng sông Cửu Long. Việc này nếu từng tỉnh tự làm, không hợp tác liên kết trên cơ sở quy hoạch tổng thể chung thì hiệu quả sẽ không cao, thậm chí là mâu thuẫn nhau, gây thiệt hại cho nhau.

    Thứ tư, các Tỉnh thành trong Vùng cần liên kết hợp tác để bảo đảm quốc phòng an ninh.

    Sự cần thiết và nội dung cần hợp tác cơ bản đã rõ. Lãnh đạo các Địa phương đều đồng tình. Nhưng với thể chế chính trị, với phương thức lãnh đạo và quản lý điều hành, với Hiến pháp, luật pháp hiện nay... thì cơ chế chính sách gì và tổ chức như thế nào để liên kết hợp tác cho có hiệu lực hiệu quả là rất khó khăn. Quy chế liên kết hợp tác đã được dự thảo và nhiều lần thảo luận, lấy ý kiến. Theo đồng chí Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh - Trưởng ban chỉ đạo Tây Nam Bộ nếu ban hành thì cũng khó khả thi. Tôi cũng đã xem Dự thảo Quy chế. Tôi đồng tình với ý kiến của Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh. Chính phủ đã yêu cầu Bộ Kế hoạch và Đầu tư tiếp tục nghiên cứu và trao đổi thêm với các Bộ, các Địa phương để sớm hoàn thiện và ban hành Quy chế Liên kết hợp tác Vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

    2. Về ý kiến chất vấn của đại biểu Danh Út

    Đại biểu nêu Đồng bào các dân tộc đánh giá cao và hoan nghênh Chính phủ đã tổ chức thực hiện tốt chính sách dân tộc như Hiến pháp đã quy định. Tuy nhiên, chính sách chưa được đồng bộ, thực hiện còn nhiều khó khăn. Hiện vẫn còn hơn 300.000 hộ đồng bào dân tộc thiểu số không có hoặc thiếu đất sản xuất, đất ở. Trong khi đó đất của các nông, lâm trường quản lý khá nhiều, sử dụng kém hiệu quả, lãng phí hoặc chưa sử dụng. Xin đề nghị Chính phủ giảm bớt đất của các nông, lâm trường để giao lại chính quyền địa phương cấp cho đồng bào, cả giao khoán, bảo vệ rừng. Đề nghị Thủ tướng cho biết ý kiến về chủ trương và giải pháp đối với vấn đề này.

    Tôi xin trình bày như sau:

    Hiện nay, theo báo cáo của cơ quan chức năng, cả nước ta còn khoảng 300 nghìn hộ đồng bào dân tộc thiểu số không có hoặc thiếu đất sản xuất, đất ở. Đây là điều trăn trở, day dứt của Chính phủ. Khi làm nhiệm vụ Phó Thủ tướng Thường trực và được phân công trực tiếp làm Trưởng ban chỉ đạo Tây Nguyên cũng như với trách nhiệm Thủ tướng Chính phủ, tôi đã hết sức cố gắng, cùng với hệ thống chính trị của chúng ta tìm cách giải quyết vấn đề này. Mặc dù chúng ta đã giải quyết được rất nhiều, nhưng vẫn còn một số lượng khá lớn, đúng như Đồng chí nêu. Để giảm nghèo nhanh, trong đó có giải quyết đất sản xuất, đất ở cho đồng bào nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số thì phải thực hiện đồng bộ các biện pháp, như đã trình bày trong báo cáo. Chính phủ đã quyết nghị là xây dựng cơ chế chính sách đặc thù để giảm nghèo nhanh hơn đối với đồng bào dân tộc thiểu số, với hình thức là một Nghị định của Chính phủ.

    Thời gian qua, tỷ lệ hộ nghèo ở 64 huyện nghèo đã giảm từ 50,97% năm 2011 xuống còn khoảng 34% năm 2014. Trong đó có 300 nghìn hộ này. Đồng bào dân tộc thiểu số của chúng ta thường sống gắn bó với rừng, muốn giảm nghèo bền vững thì phải giao rừng cho đồng bào bảo vệ, chăm sóc và phát triển rừng – đồng thời với việc phải sắp xếp tổ chức lại các lâm trường quốc doanh – cùng với rừng là phát triển chăn nuôi, đa dạng cây trồng để tăng thu nhập cho đồng bào. Trong báo cáo giải trình tôi cũng đã đề cập về chủ trương này. Tại Phiên họp thường kỳ tháng 10 vừa qua, Chính phủ đã thảo luận Dự thảo Nghị định do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trình về cơ chế chính sách giao rừng, bảo vệ, chăm sóc và phát triển rừng gắn với thực hiện các chính sách khác nhằm hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số giảm nghèo nhanh hơn, trong đó có giải quyết đất sản xuất, đất ở cho đồng bào dân tộc thiểu số. Vấn đề khó nhất là ngân sách. Chính phủ đang chỉ đạo khẩn trương hoàn thiện để sớm ban hành Nghị định về các chính sách này.

    3. Về ý kiến chất vấn của đại biểu Đỗ Văn Đương

    Đại biểu nêu biển bạc nước ta giàu tài nguyên, mênh mông hàng triệu kilômét vuông, gấp ba lần diện tích đất liền. 500 năm về trước Trạng Trình đã căn dặn chúng ta "biển Đông ngàn dặm dang tay giữ" và Trung ương Đảng cũng đã có Nghị quyết về Chiến lược biển Việt Nam. Xin Thủ tướng cho biết trong thời gian gần đây chúng ta đã có những bước đầu tư đáng kể gì để phát triển kinh tế biển đảo. Tôi cũng nhận thức rằng để dang tay giữ biển Đông ngàn dặm, thời gian tới cần bớt đầu tư công trong bờ để dành nguồn lực tăng cường đầu tư cho phát triển kinh tế biển và theo đó cũng nên thành lập Bộ Kinh tế biển, trên cơ sở tách một phần chức năng của Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - để có một Bộ chuyên tâm tham mưu cho Chính phủ quản lý nhà nước và phát triển kinh tế biển đảo. Xin hỏi ý kiến của Thủ tướng về vấn đề này.

    Tôi xin trình bày như sau:

    Đối với đất nước ta, biển quan trọng đặc biệt như thế nào có lẽ tất cả chúng ta đều nhận thức rõ. Đảng ta đã có Nghị quyết về Chiến lược biển. Chính phủ đã ban hành và đang tích cực triển khai Chương trình hành động để thực hiện Nghị quyết của Trung ương - vừa tập trung đầu tư phát triển kinh tế biển, cải thiện đời sống nhân dân làm nghề biển, vừa bảo đảm chủ quyền quốc gia trên biển và cũng đã đạt được nhiều kết quả. Tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu, mong muốn. Cần phải nỗ lực, làm tốt hơn nữa. Căn cứ khả năng ngân sách quốc gia, căn cứ điều kiện an toàn về nợ công, Chính phủ sẽ tiếp tục tập trung đầu tư cho phát triển kinh tế biển, cải thiện đời sống người dân và bảo đảm quốc phòng an ninh, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển - theo quy hoạch và kế hoạch đã được phê duyệt. Việc bớt đầu tư trên bộ để đầu tư trên biển cũng khó tách bạch rạch ròi. Có nhiều Dự án, công trình đầu tư trên bộ nhưng lại cho biển, cho phát triển kinh tế xã hội và bảo đảm chủ quyền quốc gia trên biển, đảo. Do đó chúng ta phải thực hiện một cách đồng bộ, có chiến lược, có quy hoạch và kế hoạch một cách căn cơ cả trước mắt cũng như lâu dài. Với tinh thần chung là phát triển tốt nhất, hiệu quả cao nhất kinh tế biển gắn với bảo đảm quốc phòng an ninh và bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên biển.

    Về thành lập Bộ Kinh tế biển. Tôi xin ghi nhận ý kiến Đại biểu. Nhiều người cũng nêu với Thủ tướng Chính phủ về vấn đề này. Nhưng thưa Đại biểu. Nếu như tất cả các nhiệm vụ, các lĩnh vực liên quan đến biển, đến kinh tế biển như: khai thác hải sản; khai thác dầu khí và khoáng sản dưới đáy biển; vận tải biển; du lịch biển đảo; bảo vệ môi trường biển; bảo đảm an ninh quốc phòng; bảo đảm chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của quốc gia trên biển... khó có thể giao cho một Bộ quản lý, điều hành thống nhất được. Phân công quản lý nhà nước cho các Bộ như hiện nay theo tôi cơ bản là phù hợp. Mỗi lĩnh vực đều có một Bộ chủ trì quản lý, các Bộ liên quan phối hợp thực hiện theo chức năng nhiệm vụ được giao.

    Nhiệm kỳ này của Chính phủ chỉ còn hơn một năm nữa. Chính phủ đang chỉ đạo tổng kết, đánh giá việc thực hiện chức năng nhiệm vụ của Chính phủ và của từng Bộ để xây dựng Đề án tổ chức Chính phủ nhiệm kỳ 2016 - 2021. Ý kiến về thành lập Bộ Kinh tế biển chúng tôi sẽ nghiên cứu trong quá trình xây dựng Đề án tổ chức Chính phủ cho nhiệm kỳ sau.

    4. Về ý kiến chất vấn của đại biểu Thân Đức Nam

        Đại biểu nêu trong báo cáo giải trình của Thủ tướng có vấn đề xử lý nợ xấu, nhưng tôi cũng muốn đề nghị làm rõ hơn vấn đề nợ xấu của ngân hàng. Chính phủ có dùng ngân sách nhà nước để hỗ trợ xử lý nợ xấu không và có chủ trương gì để giải quyết vấn đề này.

    Tôi xin trình bày như sau:

    Trong Báo cáo giải trình, tôi đã nghiêm túc trình bày về thực trạng, nguyên nhân, những kết quả đạt được và mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp xử lý nợ xấu đến hết 2015. Xin nhắc lại là chúng ta không có ngân sách và cũng không sử dụng ngân sách nhà nước để xử lý nợ xấu. Không dùng ngân sách nhà nước để xử lý nợ xấu thì việc xử lý có khó khăn hơn. Nhưng chúng ta vẫn giải quyết được theo cách của chúng ta. Theo báo cáo của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước thì tỷ lệ nợ xấu đã giảm từ 17% vào tháng 9 năm 2012 đến nay xuống còn khoảng 5,4% (theo báo cáo của các tổ chức tín dụng khoảng 3,8%). Đến năm 2015 phấn đấu đưa tỷ lệ nợ xấu trong hệ thống tín dụng của nước ta về mức khoảng 3% - là mức bình thường trong kinh tế thị trường. Quốc hội đã biểu quyết thông qua ngân sách năm 2015. Không có khoản chi tiêu cho việc thực hiện nhiệm vụ này. Phương cách xử lý nợ xấu đã và đang thực hiện là phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam chúng ta. Xử lý hiệu quả nợ xấu là một nhiệm vụ trọng tâm của Chính phủ trong năm 2015.

    5. Về ý kiến chất vấn của đại biểu Trịnh Ngọc Phương

    Đại biểu nêu qua phiên trả lời chất vấn của các Bộ trưởng hai ngày qua, nổi lên một số vấn đề còn hạn chế, tồn tại về hạ tầng giao thông, công nghiệp phụ trợ, công nghiệp cơ khí, cơ chế đầu tư công nghiệp, nguồn nhân lực, nhất là lao động chất lượng cao, khuyến khích sáng tạo khoa học kỹ thuật cũng như đầu tư cho khoa học công nghệ. Trong báo cáo giải trình và trả lời chất vấn Thủ tướng đã đưa ra nhiều giải pháp. Theo Thủ tướng giải pháp nào là quan trọng, mang tính quyết định; nhiệm vụ cần tập trung trước mắt từ nay đến hết năm 2015 là gì để bảo đảm đến năm 2020 đạt được mục tiêu nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại mà Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI đề ra.

    Tôi xin trình bày như sau:

    Vấn đề Đại biểu nêu là rất rộng lớn. Để đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, chúng ta phải thực hiện đồng bộ, đồng thời các nhiệm vụ, giải pháp mà Nghị quyết Đại hội XI của Đảng đã đề ra. Đặc biệt là phải thực hiện hiệu quả 3 đột phá chiến lược gắn với tái cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng để nền kinh tế hiệu quả cao hơn, cạnh tranh cao hơn. Đột phá chiến lược về thể chế - mà chủ yếu là hoàn thiện Nhà nước pháp quyền và thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm phát huy cao nhất quyền tự do dân chủ của người dân, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực - cả nội lực ngoại lực - để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đột phá về phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực có chất lượng cao. Đột phá về xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội đồng bộ, với những công trình hiện đại. Đây là nhiệm vụ giải pháp quan trọng, quyết định cả trước mắt và những năm sau trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

    Tóm lại, để đưa nước ta sớm trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, không có cách nào khác là phải tiếp tục quán triệt sâu sắc, triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ Nghị quyết Đại hội XI của Đảng. Đặc biệt là thực hiện có hiệu quả ba đột phá chiến lược, gắn với tái cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững.

    6. Về ý kiến chất vấn của đại biểu Thích Thanh Quyết

    Đại biểu nêu kinh tế nước ta đã qua giai đoạn nghỉ ngơi, đang trên đà phát triển bền vững. Cử tri, nhân dân cả nước rất yên tâm, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ. Đồng bào các dân tộc và các tôn giáo cả nước sẽ nhất tâm cùng Chính phủ xây dựng cuộc sống. Đạo pháp đồng hành cùng dân tộc, sống phúc âm trong lòng dân tộc. Nhưng cả dân tộc hoặc nói ra hoặc không nói ra, mọi người dân Việt Nam đều thấu hiểu, thấm thía cái giá của hòa bình, ổn định. Qua vụ việc Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng biển của nước ta, sự kiên quyết đồng tâm của toàn Đảng, toàn dân là một tín hiệu rất tốt cho vượng khí của nước nhà. Song cử tri muốn được nghe từ kim khẩu của Thủ tướng. Xin Thủ tướng cho biết chủ trương, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta đối với vấn đề biển Đông và Trung Quốc bằng cách nói ngắn gọn nhất, dễ nghe, dễ hiểu nhất nhưng lại xúc tích đầy đủ nhất.

    Tôi xin trình bày như sau:

    Đối với Trung Quốc hay đối với tất cả các nước trên thế giới, chúng ta phải kiên trì thực hiện nhuần nhuyễn, hiệu quả đường lối đối ngoại nhất quán của Đảng và Nhà nước ta. Đường lối này đã được nêu trong Điều 12 của Hiến pháp 2013. Đó là Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập, hợp tác quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi; tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế vì lợi ích quốc gia, dân tộc, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.

    Quan hệ với Trung Quốc hay với tất cả các nước đều phải trên cơ sở Đường lối đối ngoại đã được khẳng định rõ ràng, nhất quán này của Đảng và Nhà nước ta. Trung Quốc là nước láng giềng, dù mưa nắng hay bão lũ cũng là láng giềng, mãi mãi là láng giềng. Chúng ta hết sức mong muốn, luôn luôn mong muốn Việt Nam và Trung Quốc cùng nhau chân thành hợp tác để gìn giữ hòa bình và tăng cường hữu nghị, cùng nhau hợp tác bình đẳng, cùng có lợi, cùng phát triển, cùng thịnh vượng. Cùng nhau chân thành thực hiện một cách thực chất, hiệu quả phương châm 16 chữ, tinh thần 4 tốt để đem lại lợi ích thật sự cho cả nhân dân 2 nước Việt Nam - Trung Quốc.

    Chúng ta luôn mong muốn Việt Nam - Trung Quốc chân thành, thiện chí, tôn trọng lẫn nhau, cùng nhau hợp tác, làm hết sức mình để cùng nhau giải quyết tranh chấp, bất đồng về vấn đề biên giới lãnh thổ trên biển đảo theo luật pháp quốc tế, theo Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 và theo Thỏa thuận của lãnh đạo cấp cao 2 nước về những nguyên tắc chỉ đạo giải quyết những vấn đề trên biển - Cùng nhau đàm phán hòa bình tìm ra giải pháp mà hai bên đều chấp nhận được. Không dùng sức mạnh, không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực.

    Đại biểu yêu cầu Thủ tướng nói ngắn gọn nhất, dễ nghe, dễ hiểu nhất, xúc tích đầy đủ nhất về chủ trương, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta đối với vấn đề Biển Đông và Trung Quốc từ sau khi Trung Quốc rút giàn khoan ra khỏi vùng biển nước ta. Đáp ứng yêu cầu này là khó. Tôi xin nêu khái quát 6 chữ - không biết có đáp ứng được yêu cầu của Đại biểu không - đó là Vừa hợp tác, vừa đấu tranh.

    Chúng ta vừa hợp tác, vừa đấu tranh không chỉ với Trung Quốc. Chúng ta vừa hợp tác, vừa đấu tranh để có hòa bình, ổn định, để tăng cường hữu nghị, tin cậy lẫn nhau, để bình đẳng, cùng có lợi, cùng phát triển, cùng ấm no, thịnh vượng. Chúng ta vừa hợp tác, vừa đấu tranh để bảo vệ độc lập chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, để bảo vệ lợi ích chính đáng của chúng ta - trong đó có chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của chúng ta đối với Biển Đông, Hoàng Sa và Trường Sa. Chúng ta vừa hợp tác, vừa đấu tranh để thực hiện hiệu quả Đường lối đối ngoại nhất quán của Đảng và Nhà nước ta đã ghi trong Hiến pháp nước ta.

    7. Về ý kiến chất vấn của đại biểu Lê Nam

    Đại biểu nêu ngay khi giàn khoan HD 981 chưa rút, Trung Quốc đã mạnh mẽ xây dựng các đảo, xây dựng sân bay,biến đảo đá chìm thành lãnh thổ, thành các đảo Gạc Ma, Chữ Thập thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam mà Trung Quốc cưỡng đoạt. Đó là kế sách không đánh mà thắng, nhằm độc chiếm Biển Đông. Cử tri cả nước quan tâm đặc biệt đến tình hình trên. Mong muốn Thủ tướng cho biết kế sách của Chính phủ sẽ như thế nào để bảo vệ trọn vẹn chủ quyền, quyền chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.

    Tôi xin trình bày như sau:

    Tất cả chúng ta, đồng chí đồng bào ta đều biết rất rõ, đảo Gạc Ma, Chữ Thập và một số đảo trong quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam đã bị Trung Quốc dùng vũ lực cưỡng chiếm năm 1988. Trong tình thế lúc đó chúng ta đã cùng với các nước ASEAN ký với Trung Quốc Tuyên bố về ứng xử của các bên liên quan ở Biển Đông, gọi tắt là DOC. Trong đó có nội dung là các bên giữ nguyên hiện trạng, không làm phức tạp thêm, mọi tranh chấp phải được giải quyết bằng biện pháp hòa bình, cùng nhau thương lượng đàm phán để tìm ra giải pháp mà các bên đều chấp nhận được, trên cơ sở luật pháp quốc tế, Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982. Không dùng vũ lực, không đe dọa dùng vũ lực. Theo thông tin ta có được mà báo chí cũng đã nêu, Trung Quốc đang bồi lấp biển (làm thay đổi bản chất thực trạng) với quy mô rất lớn ở đảo Chữ Thập, đảo Gạc Ma để thành Đảo lớn nhất ở Quần đảo Trường Sa. Lớn hơn nhiều lần đảo Ba Bình - là đảo lớn nhất từ trước đến nay - ở Quần đảo Trường Sa.

    Lập trường của chúng ta là kiên quyết phản đối. Vì việc làm này của Trung Quốc là vi phạm Điều 5 của Tuyên bố về ứng xử của các bên liên quan ở Biển Đông (DOC) mà Trung Quốc là một bên tham gia ký kết. Lập trường này của chúng ta đã được Bộ Ngoại giao nước ta nhiều lần công khai khẳng định. Tại các Hội nghị cấp cao ASEAN tháng 11 năm 2014, thay mặt Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tôi đã phát biểu lập trường này ở tất cả các Hội nghị (Hội nghị cấp cao ASEAN; Hội nghị cấp cao Đông Á có các nhà lãnh đạo ASEAN và Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Nga, Mỹ, Úc, Niu Di Lân, Hàn Quốc; Hội nghị cấp cao ASEAN với 3 nước Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc; Hội nghị cấp cao ASEAN với Liên hợp quốc; Hội nghị ASEAN riêng với từng nước như: với Trung Quốc, với Nhật, với Ấn Độ, với Nga, với Mỹ...). Như vậy, lập trường của Việt Nam về vấn đề này đã được nêu rõ trước Cộng đồng quốc tế. Bằng các biện pháp phù hợp với Luật pháp quốc tế chúng ta sẽ tiếp tục đấu tranh để bảo vệ chủ quyền trên biển đảo của Việt Nam chúng ta

    Thưa Quốc hội,

    Thời gian dành cho tôi trả lời chất vấn trực tiếp đã hết. Các chất vấn còn lại của Đại biểu Nguyễn Thị Khá, Nguyễn Thị Kim Thúy, Hồ Thị Cẩm Đào, Thủ tướng Chính phủ sẽ trả lời Đại biểu bằng văn bản và sẽ đăng công khai trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. Xin trân trọng cám ơn Quốc hội và các vị Đại biểu.

    Thay mặt Chính phủ, tôi xin chúc các vị đại biểu Quốc hội, đồng chí đồng bào sức khỏe, hạnh phúc, thành đạt.

     Xin cám ơn.

Viết bình luận

Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi xuất bản