|
Mục tiêu của Đại hội Đảng đặt ra
Mục
tiêu của Đại hội Đảng đặt ra là hiện đại hóa và công nghiệp hóa đất nước sẽ cơ
bản đạt được vào năm 2020. Đó là kỳ vọng của dân tộc. Vấn đề đặt ra là: Làm sao
kỳ vọng đó là khả thi, là hiện thực? Những yếu tố nào sẽ dẫn đến thành công?
Những biện pháp nào cần phải thực hiện?...
Thưc
tiễn phát triển của các nước công nghiệp cho ta thấy cần phải xây dựng một nền
tảng khoa học, công nghệ vững chắc, gắn chặt các thành tựu khoa học công nghệ với
mọi sự phát triển của các ngành công nghiệp then chốt. Trong đó những điều kiện
môi trường chủ yếu cần có để thực hiện là:
(1) Môi trường chính trị, xã hội hòa bình, ổn định; (2) Các chiến lược
phát triển kinh tế rõ ràng, gắn kết (có cơ sở khoa học và thực tiễn); (3) Luật
pháp rõ ràng., đầy đủ bảo đảm cho một thị trường cạnh tranh lành mạnh; (4) Hệ
thống tài chính thích hợp, linh hoạt và năng động; (5) Những chính sách của Nhà
nước nhằm hỗ trợ và gắn kết việc nghiên cứu và phát triển khoa học với nhu cầu
thiết thực của phát triển kinh tế.
Dưói
đây chỉ xin bàn đến môi trường thứ (5) về các chính sách của Nhà nước nhằm
định hướng, hỗ trợ và gắn kết nghiên cứu KHCN với nhu cầu thiết thực của phát
triển kinh tế.
1- Chính sách Đi tắt đón đầu
Trước đây, trong hoàn cảnh đối đầu của chiến tranh lạnh, chúng ta bị bao vây cấm
vận về KHCN. Chính sách của Đảng và Nhà nước là phải độc lập tự chủ trong nghiên
cứu phát triển KHCN và kinh tế. Chúng ta không thể phủ nhận những thành quả KHCN
và phát triển kinh tế mà thế hệ cha anh đã đạt được trong hoàn cảnh nước ta còn
nghèo nàn, lạc hậu, thiếu thốn mọi thứ ,đưa đất nước vượt qua những thử thách
ghê gớm để có ngày hôm nay. Nhưng ngày nay nhìn lại, chúng ta nhận thấy rằng,
lúc đó để làm ra mỗi sản phẩm chúng ta phải “đi từ A tới Z”, từ nghiên cứu khoa
học cơ bản, công nghệ vật liệu, nói chung là mọi ngành công nghệ liên quan tới
sản phẩm đó… Đó là con đường phải đi, đi rất lâu, rất chậm mà vẫn khó đạt được
các sản phẩm có chất lượng cao, có tầm cạnh tranh quốc tế (xe ô tô “Hòa Bình”,
máy kéo “Công nông” là một ví dụ…)
Ngày
nay, như Chủ tịch Trần Đức Lương đã nói: Chúng ta phải thay đổi, “phải đi từ Z
tới A”. Đó là cách nói hình tượng của chính sách đi tắt đón đầu nhằm sớm có được
các sản phẩm công nghệ tiên tiến có giá trị, có khả năng cạnh tranh trong điều
kiện hội nhập quốc tế. Có thể tóm tắt chính sách đó như sau:
Khởi
đầu sự nghiệp (ở các nước và khu vực mới phát triển điển hình như Hàn Quốc,
Xingapore, Đài Loan, Hồng Kông… cũng như vậy), chúng ta cần phải bắt đầu bằng
việc nghiên cứu lựa chọn để nhập khẩu các công nghệ tiên tiến từ các nước đã
phát triển, ứng dụng ngay, nhanh chóng cho ra những sản phẩm có trình độ công
nghệ và chất lượng cao, từ đó từng bước nâng cao, nội địa hóa từng phần sản phẩm
bằng sự thông minh và trình độ KHCN của con người Việt Nam. Có công nghệ tiên
tiến, sản phẩm của chúng ta sẽ có tính cạnh tranh cao nếu ta biết phát huy các
ưu việt sẵn có của nước ta về giá nhân công còn thấp và sử dụng các tài nguyên
sẵn có của mình.
Trong giai đoạn vừa qua, để giải quyết công ăn việc làm, tận dụng thế mạnh về
tiềm năng nhân lực, chúng ta đã chọn các ngành công nghiệp thực phẩm (gạo, cà
phê, thủy sản…), các ngành công nghiệp nhẹ tiêu dùng (giầy da, dệt may, đồ gỗ,
sành sứ, giấy…). Những ngành đó mặc dù không có hiệu quả kinh tế cao, nhưng phù
hợp với hoàn cảnh và tiềm lực nước ta trong giai đoạn đầu phát triển công nghiệp.
Những ngành công nghiệp này trước hết đã đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước,
bảo đảm đời sống nhân dân và ổn định tình hình xã hội. Song quan trọng là những
sản phẩm này đã đạt được trình độ công nghệ và chất lượng cạnh tranh trên trường
quốc tế. Đó là sự minh chứng tính đúng đắn của chiến lược trên. Cứ như thế chúng
ta cần áp dụng cho các sản phẩm của các ngành công nghiệp được lựa chọn trong
thời gian tới…
Vấn
đề chúng ta cần bàn là từ nay tới 2020, song song việc duy trì phát triển bền
vững các ngành nghề đã đạt được, để phát triển nhanh hơn, để đẩy nhanh CNH-HĐH
với GDP trên đầu người đạt trên 5000 USD, chúng ta cần lựa chọn các ngành công
nghiệp nào cho phù hợp và phải tiến hành phát triển ra sao?
Xác định các mục tiêu ngắn hạn
Đối với doanh nghiệp có
đầu tư vốn nước ngoài (FDI).
Đó
là nhân tố quan trọng trong các mục tiêu trước mắt của phát triển kinh tế. FDI
là nhân tố quan trọng trong việc khai mở thị trường xuất khẩu. Mặc khác, FDI còn
giúp huấn luyện những chuyên viên kỹ thuật, đội ngũ quản lý trong việc nâng cao
kỹ năng và bí quyết thành công trên thương trường. Việt Nam cần cải tổ các chính
sách như: Khuyến khích đầu tư, tài chính, ngân hàng, mậu dịch, tiền tệ, hệ thống
thuế… là những trọng điểm đáng chú ý để tạo môi trường thông thoáng, hấp dẫn đầu
tư, nâng cao khả năng thu hút nguồn vốn đầu tư FDI từ nước ngoài và đẩy mạnh thị
trường xuất khẩu hơn nữa.
Về doanh
nghiệp vừa và nhỏ.
Một
nước công nghiệp chính hiệu đương nhiên không chỉ dựa vào toàn là các doanh
nghiệp nhỏ và vừa mà xương sống của nó phải là các tập đoàn công nghiệp mạnh..
Tuy nhiên hiện nay và mai sau các doanh nghiệp loại vừa và nhỏ vẫn luôn luôn
đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Các doanh nghiệp này có
vốn đầu tư vừa tầm phổ cập của đa số doanh nhân, là đầu mối để phát triển các
ngành kinh tế phục vụ dân sinh, là các doanh nghiệp vệ tinh, dịch vụ sản xuất
chi tiết, phụ tùng cho các Tập đoàn công nghiệp. Do tính phổ cập rộng rãi, các
doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ tạo được rất nhiều công việc làm mới cho nhân dân.
Đây cũng là một thị trường rộng lớn, là mảnh đất phì nhiêu cho phát triển các
ngành khoa học công nghệ đủ khắp các lĩnh vực. Chính phủ hiện nay đã có những
chính sách thông thoáng cho sự ra đời, phát triển những doanh nghiệp vừa và nhỏ,
tuy nhiên trong bước đột phá sắp tới Chính phủ cần có những chương trình đặc
biệt khuyến khích và hổ trợ hơn nữa, đánh giá cao hơn tầm quan trọng của các
doanh nghiệp vừa và nhỏ trong công cuộc hiện đại hóa, công nghiệp hóa đất nước.
Chính phủ cần có những chương trình hỗ trợ nhập khẩu và ứng dụng khoa học công
nghệ rộng rãi, tạo điều kiện thuận lợi cho những doanh nghiệp này về đất đai,
vay vốn và ưu đãi về thuế cho những ngành then chốt hoặc sử dụng nhiều lao động…
Như vậy các doanh nghiệp vữa và nhỏ có cơ hội phát triển đúng hướng và thông
thoáng hơn.
Về đổi mới các doanh nghiệp Nhà nước
Trong điều kiện trước mắt Nhà nước vẫn cần duy trì tỷ lệ thích hợp
những doanh nghiệp Nhà nước trong những ngành kinh tế then chốt và nhất là các
cơ sở hạ tầng phục vụ dân sinh. Các doanh nghiệp Nhà nước là xương sống cho việc
bảo đảm quá trình phát triển ổn định và an ninh, thực hiện các chính sách xã hội
chủ nghĩa của Đảng và Nhà nước. Đã đảm nhiệm trọng trách xã hội như vậy, các
doanh nghiệp Nhà nước khó có thể làm ăn có lãi cao như các doanh nghiệp tư nhân,
nhưng Nhà nước phải có chính sách bảo đảm cho các doanh nghiệp này phát triển
lành mạnh, không có thua lỗ…
Việc
cải tạo, đổi mới tổ chức, cải tiến khoa học công nghệ là biện pháp để duy trì và
phát triển vai trò của các doanh nghiệp Nhà nước. Để thành công, những chiến
lược trọng điểm về đầu tư nhằm cải tổ chất lượng đào tạo nhân sự, phục hồi và
cải tiến doanh nghiệp quốc doanh cần được thực hiện một cách kiên định. Đối với
các doanh nghiệp quốc doanh trì trệ, thua lỗ, thì Nhà nước chuyển đổi hình thức sở hữu hoặc
cho thanh lý, phá sản, sắp xếp lại lao động của các doanh nghiệp này. Các hành
động quyết liệt này của Nhà nước sẽ là sức ép bắt buộc những doanh nghiệp quốc
doanh còn lại muốn tồn tại phải tự cải tạo mình, tăng cường sự cạnh tranh sống
còn của các doanh nghiệp. Một khi Việt Nam tham gia vào tổ chức Thương mại thế
giới (WTO) những thành phần kinh tế quốc doanh sẽ khó nhận được sự bảo hộ từ
chính phủ và khi đó sẽ phải tự cạnh tranh để sinh tồn. Nếu chúng ta không tăng
cường sức mạnh cạnh tranh của các doanh nghiệp Nhà nước thì sau này chúng sẽ
không có khả năng đáp ứng vai trò “xương sống” của nền kinh tế đất nước và đảm
bảo các mục tiêu XHCN do Đảng và Nhà nướcđề ra.
Cải cách ngành khoa học
công nghệ thế nào ?
Hệ thống các cơ sở nghiên cứu và ứng dụng KHCN hiện nay của nước ta
quá cồng kềnh, ít hiệu quả, và đặc biệt không gắn liền với nhu cầu phát triển
của các ngành kinh tế. Chính phủ cần có các hành động cải cách mạnh mẽ về tổ
chức, cung cách làm việc của ngành KHCN, có những chính sách hợp lý nhằm phát
huy tiềm năng của hàng ngũ tri thức. Khầu hiệu của công cuộc cải cách này là Tri
thức - Sản xuất - Hiệu quả.
Bên cạnh đó, Chính phủ nên thiết lập các cơ chế hỗ trợ các doanh
nghiệp nhập khẩu KHCN tiên tiến, tiết kiệm năng lượng, vật tư, nuôi dưỡng hệ
thống phát triển khoa học công nghệ nhằm khuyến khích, hổ trợ, và từng bước nâng
cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Có
chính sách khuyến khích nghiên cứu khoa học cơ bản nhằm mục đích phát triển khoa
học ứng dụng một cách hiệu quả.
Về cải cách ngành Giáo dục
và Đào tạo
Để cung cấp nhân lực
đầy đủ và có chất lượng cho phát triển kinh tế nói chung và cho các ngành công
nghiệp nói riêng, ngành GD&ĐT cũng phải không chỉ theo kịp mà phải đi trước một
bước để đáp ứng các đòi hỏi cấp bách của thực tế sản xuất (phục vụ chương trình
phát triển tới 2020, bây giờ bắt đầu vấn đề này là quá muộn).
Hiện trạng ĐT&GD hiện
nay quá dàn trải, chi phí chiếm tỷ lệ GDP cao so với các nước cùng hoàn cảnh mà
chất lượng đào tạo không theo kịp yêu cầu phát triển của xã hội. Ngay cả trong
các nước khu vực như Thái Lan, Philipin, Malaysia đều có các Trường Đại học được
công nhận đạt đẳng cấp châu Á…
Để tập trung được
nguồn lực tài chính và đầu tư ngân sách của Nhà nước, phát huy hợp lý đóng góp
của xã hội và thực hiện được mục tiêu hội nhập với trình độ thế giới, ngành GD&ĐT
chuyên gia phải phân ra rõ rệt 3 thể loại trường đại học và dạy nghề khác nhau.
Đối với mỗi loại đều quy định mục tiêu đào tạo rõ ràng, có giáo trình thích hợp
và có các địa chỉ bảo đảm đầu vào và đầu ra, không đào tạo lãng phí. Chúng tôi
đề xuất phương án cụ thể để các cơ quan chuyên trách của Đảng và Nhà nước xem
xét như sau:
Các
Trường Đại học Tổng hợp có đẳng cấp QT hoặc khu vực:
Số lượng:
Tối đa chỉ cần 01 trường ĐH Tổng hợp Quốc gia và 01 trường ĐH Tổng hợp QT.
Nhiệm vụ:
Nơi đây chỉ đào tạo các chuyên gia chiến lược, các nhà khoa học tự nhiên, xã hội
và công nghệ chuyên sâu, trọng điểm quốc gia (có thể sẽ thay đổi cho phù hợp
theo từng thời kỳ).
Chế độ:
Nhà nước tập trung kinh phí ngân sách, tập trung hỗ trợ Giáo sư và tài trợ từ
bên ngoài.
Giáo viên và giáo trình:
Xây dựng từ các giáo trình 20 đại học hàng đầu Thế giới. Giảng viên: thuê GS
nước ngoài, GS Việt kiều tự nguyện, GS VN đủ tiêu chuẩn.
Đầu vào:
Các thí sinh đậu đầu bảng trong kỳ thi tuyển sinh năm đó và Các Sinh viên xuất
sắc học xong năm thứ nhất của các trường loại phía dưới. Thi tuyển theo phỏng
vấn của các giáo sư đầu ngành.
Đầu ra:
Nhà nước bảo đảm các địa chỉ sử dụng cho các chuyên gia và các Nhà khoa học đạt
trình độ xuất sắc. Thị trường và doanh nghiệp sử dụng phần còn lại.
Các trường
Đại học
chuyên nghiệp và dạy nghề do các Bộ, ngành quản lý chuyên môn, đào tạo và cấp
kinh phí chủ yếu.
Số lượng:
Giới hạn mỗi bộ hoặc ngành không quá 01 trường Đại học và 02 trường dạy nghề. Bộ
Đại học và GD chỉ quản lý nhà nước, thống kê tổng hợp, tư vấn cho Nhà nước các
chỉ đạo và can thiệp cần thiết theo Luật Giáo dục.
Kinh phí:
Nhà nước chỉ hỗ trợ kinh phí và nghiệp vụ theo khả năng thực tế. Tìm tài trợ từ
bên
ngoài. Đóng góp của các đơn vị
sử dụng nhân lực (đào tạo theo địa chỉ).
Giảng viên:
Do các Bộ chuyên ngành quản lý: Thuê GS quốc tế, GS Việt kiều tự nguyện, GS
trong nước đúng chuyên môn, kinh nghiệm và nghề nghiệp.
Giáo trình: Xây
dựng từ giáo trình các trường chuyên nghiệp Top 20, cộng điều chỉnh theo yêu cầu
thực tế trong nước của các ngành.
Đầu vào:
Thi tuyển theo chuẩn của Luật GD (Bộ Đại học).
Đầu ra:
Bộ, ngành bảo đảm sử dụng các SV tốt nghiệp từ khá trở lên. Phần còn lại thị
trường và các doanh nghiệp đảm nhận.
Các trường
Đại học
và dạy nghề chuyên nghiệp cổ phần dân lập (nội địa và quốc tế).
Số lượng:
Mỗi ngành không quá 3 trường đại học, và 3 trường dạy nghề, phân 3 khu vực địa
lý Bắc, Trung, Nam.
Đầu vào:
tuyển sinh theo chuẩn của Luật GD, Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ quản lý nhà nước,
thống kê, tư vấn Nhà nước can thiệp theo luật GD.
Giáo viên:
Do các trường thuê và tuyển lựa ngoài nước, trong nước, đủ tiêu chuẩn quy định
trong Luật giáo dục.
Giáo trình:
lấy từ top 20 các trường chuyên nghiệp QT. Đầu vào tuyển sinh theo chuẩn Luật GD.
Kinh phí:
Do Học viên
trả học phí. Các tài trợ của các ngành, tổ chức quốc tế hoặc nhà nước chỉ cấp
học bổng cho học sinh giỏi hoặc học sinh nghèo từ khá trở lên.
Đầu ra:
Cung cấp cho thị trường trong nước hoặc xuất khẩu LĐ.
Như vậy,chúng ta phải có
Luật GD&ĐT đủ chi tiết về các quy định chuẩn mực cho hoạt động GD&ĐT,
liên quan đến các thể loại đào tạo nêu trên.
Tương tự tổ chức cấp trung học
phổ thông cũng phải đáp ứng, bảo đảm sự liên thông mềm mại giữa các cấp học.
Nếu không có sự cải cách mạnh mẽ,
kịp thời của ngành GD&ĐT, với hiện trạng hôm nay của GD&ĐT sẽ là mối nguy cơ lớn
cho sự phát triển của các ngành công nghiệp và kinh tế trong tương lai.
Lời kết:
Cơ hội bứt phá đi lên của dân tộc ta luôn luôn liên quan tới các thách
thức đối với mọi ngành và mọi người. Vận mạng nước Việt Nam trong tay của mỗi
người Việt Nam chúng ta. Sứ mạng chấn hưng Tổ quốc trong tay của thế hệ ngày
nay. Hãy nắm bắt vận hội, biết đoàn kết dân tộc và biết cách làm việc, tập trung
tiềm lực sẵn có và trí tuệ để vượt qua thử thách, biết biến ước mơ thành hiện
thực, kiên trì và dũng cảm để toàn dân tộc hướng đến tương lai của một nước công
nghiệp phát triển, một xã hội hòa bình, phồn vinh và hạnh phúc. Đó là kỳ vọng
của đân tộc ta, Tổ quốc Việt Nam ta đang đặt niềm hy vọng vào trách nhiệm của
các ngành và sự cầm lái của Đảng và Nhà nước.
Phạm Đức, Xuân Thu
(Phone liên hệ: 0903404765)
|