PHẤN ĐẤU KIỀM CHẾ LẠM PHÁT, ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ,

BẢO ĐẢM AN SINH XÃ HỘI VÀ TĂNG TRƯỞNG BỀN VỮNG

(Báo cáo của Chính phủ do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trình bày

tại Kỳ họp thứ 3, Quốc hội khoá XII,

ngày 06 tháng 5 năm 2008)

____________

 

Thưa các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,

Thưa các vị đại biểu Quốc hội,

Thưa các đồng chí lão thành cách mạng và các vị khách, 

Thưa đồng bào, đồng chí và các bạn,

Trước kỳ họp này của Quốc hội, Chính phủ đã gửi đến các vị đại biểu Quốc hội hai báo cáo. Một là, Báo cáo bổ sung tình hình kinh tế - xã hội năm 2007 và triển khai thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2008; hai là, Báo cáo bổ sung tình hình thực hiện ngân sách nhà nước năm 2007 và triển khai nhiệm vụ ngân sách nhà nước năm 2008. Theo yêu cầu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ cũng đã gửi đến các vị đại biểu Quốc hội một số báo cáo chuyên đề khác. Các báo cáo đó đã đề cập toàn diện tình hình kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước và những vấn đề cần giải quyết trong việc thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội. Trong báo cáo này, thay mặt Chính phủ, tôi xin trình bày một số vấn đề quan trọng nổi lên qua việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2007, 4 tháng đầu năm 2008 và những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và duy trì sự tăng trưởng bền vững của nền kinh tế.

___________________________________

 

I

TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN

KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2007 VÀ 4 THÁNG ĐẦU NĂM 2008

 

Năm 2007, phấn khởi trước những thành tựu của sự nghiệp đổi mới, đất nước ta đã tranh thủ thời cơ, thuận lợi, vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, giữ vững ổn định chính trị xã hội và tiếp tục phát triển trên nhiều lĩnh vực. Kinh tế tăng trưởng 8,48% so với năm 2006; hầu hết các chỉ tiêu kinh tế - xã hội của năm 2007 được hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch đề ra[1].

Công nghiệp tăng trưởng khá, giá trị sản xuất tăng 17,1%; nông nghiệp tiếp tục phát triển, giá trị sản xuất toàn ngành tăng 4,6%; các ngành dịch vụ có nhiều chuyển biến tích cực, tốc độ tăng trưởng cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế, giá trị tăng thêm đạt 8,68%. Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 21,9%, có 10 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ đô la Mỹ. Vốn đầu tư toàn xã hội đạt 505 nghìn tỷ đồng, bằng 44% GDP; trong đó, vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước, vốn đầu tư của dân cư đều tăng, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và vốn hỗ trợ phát triển chính thức đạt mức cao nhất từ trước đến nay. Thu ngân sách nhà nước vượt 12,1% dự toán, tăng 16,9% so với thực hiện năm 2006; chi ngân sách vượt 11,8% dự toán, tăng 20%.

Các lĩnh vực văn hoá, xã hội, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ duy trì được đà phát triển và có những tiến bộ mới. Tạo thêm việc làm cho 1,68 triệu lao động. Đời sống của nhân dân trên nhiều mặt tiếp tục được cải thiện. Các chương trình đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội ở các vùng khó khăn và các chính sách trợ giúp trực tiếp cho sản xuất và đời sống của người nghèo, người bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh được đẩy mạnh và đem lại hiệu quả thiết thực. Tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 14,8%.

Hoạt động đối ngoại, hội nhập và hợp tác kinh tế quốc tế đạt được nhiều kết quả tích cực, tạo thêm thuận lợi cho sự phát triển và góp phần nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế. Quốc phòng, an ninh được giữ vững. Trật tự an toàn xã hội được bảo đảm.

Chúng ta xây dựng và thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2008 trong bối cảnh thời cơ, thuận lợi rất lớn từ những thành tựu đạt được của hơn 20 năm đổi mới, nhất là năm 2006 và 2007; nhưng cũng đứng trước những khó khăn, thách thức không nhỏ, như: quy mô nền kinh tế còn nhỏ, cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm; chất lượng tăng trưởng, năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh còn thấp; nền kinh tế vẫn đang tiếp tục chuyển đổi, thể chế kinh tế thị trường chưa hoàn thiện, hội nhập kinh tế quốc tế chưa có nhiều kinh nghiệm; kinh tế vĩ mô chưa thật vững chắc; hạ tầng kinh tế - xã hội và nguồn nhân lực chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển; khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế còn thấp; nhiều vấn đề xã hội bức xúc còn chậm được khắc phục.  

Mặt khác, những tháng cuối năm 2007 tình hình kinh tế thế giới diễn biến rất phức tạp; giá dầu thô, giá lương thực và giá nguyên vật liệu, máy móc thiết bị tăng cao tạo thêm những thách thức gay gắt cho việc điều hành nền kinh tế và tác động tiêu cực đến ổn định kinh tế vĩ mô; giá tiêu dùng trong nước quý IV tăng rất mạnh, làm cho chỉ số giá tiêu dùng cả năm 2007 tăng 12,63%; kim ngạch nhập khẩu cả năm tăng 39,6%, nhập siêu tăng cao, bằng 29% tổng kim ngạch xuất khẩu và gấp hơn 2,7 lần năm 2006[2].

Trước tình hình đó, trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2008, Chính phủ đã tập trung sức chỉ đạo theo dõi sát các diễn biến của tình hình, phát hiện và xử lý những vấn đề mới phát sinh. Nhiều chính sách, biện pháp đã được khẩn trương triển khai thực hiện nhằm kiềm chế lạm phát; tăng cường quản lý thị trường, giá cả và ổn định thị trường tiền tệ, thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản; tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho phát triển sản xuất, đầu tư; đẩy mạnh xuất khẩu, hạn chế nhập siêu và bảo đảm cân đối các hàng hoá thiết yếu; hỗ trợ thiết thực để ổn định đời sống và sản xuất của nhân dân, nhất là nông dân, ngư dân, người nghèo, người bị thiệt hại, khó khăn do thiên tai, dịch bệnh và giá cả tăng cao.

Với sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành và cộng đồng doanh nghiệp, tình hình kinh tế - xã hội 4 tháng đầu năm 2008 tiếp tục đạt được những kết quả rất đáng ghi nhận, nhưng cũng đã xuất hiện những mặt yếu kém và những khó khăn rất lớn.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế quý I tuy đạt khá cao (7,4%) nhưng thấp hơn cùng kỳ năm trước (7,8%) và thấp xa so với mục tiêu kế hoạch cả năm (8,5 đến 9% và phấn đấu đạt mức cao hơn); giá trị sản xuất công nghiệp 4 tháng đầu năm 2008 tăng 16,4% nhưng thấp hơn cùng kỳ (16,7%); sản xuất nông nghiệp tăng trưởng cao hơn cùng kỳ nhưng đang gặp nhiều khó khăn do thiên tai, dịch bệnh; khu vực dịch vụ quý I tăng 8,1%, cao hơn cùng kỳ (8%); vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 4 tháng đầu năm tiếp tục tăng cao so với cùng kỳ cả về số lượng đăng ký mới (41,4%) và về số thực hiện (26%).

Xuất khẩu 4 tháng đầu năm tăng cao hơn cùng kỳ năm trước (27,6% so với 22%), nhưng nhập khẩu tăng quá cao so với 4 tháng đầu năm 2007 (71% so với 33,6%), nhập siêu 4 tháng bằng 60,8% kim ngạch xuất khẩu, đây là mức nhập siêu cao nhất trong nhiều năm qua. Nhập khẩu tăng cao chủ yếu là do số lượng nhập khẩu các nhóm hàng nguyên nhiên vật liệu, thiết bị máy móc phục vụ sản xuất tăng nhanh và phải chịu mặt bằng giá cao hơn nhiều so với cùng kỳ; nhưng nguyên nhân sâu xa là cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm và còn nhiều yếu kém, công nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất và công nghiệp hỗ trợ chưa phát triển, hàng công nghiệp xuất khẩu chủ yếu là gia công lắp ráp (khoảng 70% nguyên liệu và linh kiện phải nhập khẩu) và hiệu quả đầu tư thấp, còn nhiều lãng phí trong sản xuất và tiêu dùng.

Giá tiêu dùng tuy đã có dấu hiệu chững lại nhưng vẫn ở mức rất cao[3]; tháng 4 năm 2008 tăng 11,6% so với tháng 12 năm 2007. Nếu so với tháng 4 năm 2007 thì tốc độ tăng giá lên đến 21,42%, là mức tăng giá cao nhất trong nhiều năm qua.

Các lĩnh vực văn hoá, xã hội, khoa học, công nghệ, giáo dục, y tế, giải quyết việc làm, bảo vệ môi trường, xoá đói giảm nghèo, cải cách hành chính, phòng chống tham nhũng, công tác đối ngoại và bảo đảm quốc phòng, an ninh... được khẩn trương triển khai thực hiện và đạt được những kết quả tích cực. Chính trị xã hội ổn định.

Nhưng nổi cộm lên và đáng lo ngại là tình hình lạm phát, giá cả tiêu dùng và nhập siêu tăng cao, cùng với những biến động bất thường của thị trường tiền tệ, thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản đã đe dọa nghiêm trọng sự ổn định của kinh tế vĩ mô, tác động tiêu cực đến sản xuất, đến tăng trưởng của nền kinh tế và môi trường đầu tư, ảnh hưởng đến công ăn việc làm, thu nhập và đời sống của nhân dân, nhất là người nghèo, người lao động có thu nhập thấp và đồng bào ở những vùng bị thiên tai, dịch bệnh.

Tình hình trên đây có nguyên nhân khách quan rất lớn từ kinh tế Mỹ suy giảm và đồng đô la Mỹ mất giá kéo theo sự suy giảm của kinh tế toàn cầu; giá cả thế giới tăng cao đột biến, nhất là giá dầu thô, lương thực và giá nhiều vật tư, nguyên liệu chủ yếu đã tác động xấu đến các nền kinh tế và làm lạm phát tăng cao ở hầu hết các nước. Với nước ta, độ mở của nền kinh tế lớn (tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá năm 2007 trên 150% GDP, riêng nhập khẩu gần 90%) nên bị tác động rất mạnh. Ở trong nước, thiên tai và dịch bệnh xảy ra liên tiếp trong nhiều năm, gây khó khăn cho nhiều ngành sản xuất, nhất là sản xuất nông nghiệp. Trong bối cảnh khách quan nêu trên, bên cạnh những mặt mạnh, mặt tích cực, thì những yếu kém, bất cập trong quản lý, điều hành của Chính phủ là nguyên nhân chủ quan trực tiếp, quan trọng đã làm cho những yếu kém vốn có của nền kinh tế nước ta càng bộc lộ rõ hơn và tác động sâu rộng hơn.

Những yếu kém, bất cập trong quản lý, điều hành của Chính phủ thể hiện trên các mặt chủ yếu sau đây:

Một là, thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng trong nhiều năm, nhất là trong năm 2007, làm tổng phương tiện thanh toán và tổng dư nợ tín dụng tăng cao gây áp lực trực tiếp đến lạm phát[4]. Thắt chặt tiền tệ để ưu tiên kiềm chế lạm phát là việc làm rất cần thiết, nhưng một số biện pháp xử lý cụ thể chưa thật thích hợp và đồng bộ, thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan liên quan nên đã làm nảy sinh những khó khăn mới. Quản lý nhà nước đối với hoạt động của hệ thống ngân hàng và tổ chức tín dụng, nhất là việc kiểm tra, giám sát hoạt động của các ngân hàng thương mại còn nhiều bất cập, kém hiệu quả, để nhiều ngân hàng cổ phần tăng dư nợ tín dụng quá cao và sử dụng tỷ lệ lớn vốn ngắn hạn cho vay dài hạn, cho vay kinh doanh chứng khoán và kinh doanh bất động sản, gây khó khăn cho việc quản lý và ổn định kinh tế vĩ mô. Điều hành tỷ giá, nhất là tỷ giá đồng Việt Nam với đồng đô la Mỹ chưa thật linh hoạt, phù hợp.

Hai là, tỷ lệ bội chi ngân sách ở mức 5% được giữ liên tục trong nhiều năm trong khi quy mô nền kinh tế ngày càng lớn nhưng chưa đặt ra kế hoạch phấn đấu giảm dần bội chi; do đó không tạo được áp lực đối với việc kiểm soát và tiết kiệm chi tiêu ngân sách. Chi đầu tư từ khu vực nhà nước còn lớn và hiệu quả thấp. Tình trạng này cũng diễn ra khá phổ biến trong việc đầu tư của nhiều doanh nghiệp nhà nước và trong sử dụng tín dụng ưu đãi của Nhà nước. Chính sách và giải pháp quản lý chưa hướng mạnh việc đầu tư phát triển của toàn xã hội vào đầu tư chiều sâu, phát triển bền vững, chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế và tiết kiệm cả trong sản xuất và tiêu dùng. Hệ số ICOR của nước ta cao hơn so với nhiều nền kinh tế ở thời kỳ phát triển tương đương làm giảm chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Ba là, vai trò của Nhà nước trong quản lý thị trường (trong đó có thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản) và quản lý giá cả, quản lý xuất nhập khẩu còn nhiều bất cập, yếu kém; chậm đề ra các chính sách thích hợp, có hiệu quả để quản lý và thúc đẩy sự phát triển lành mạnh của các hoạt động này. Việc kiên trì thực hiện giá cả theo cơ chế thị trường là chủ trương đúng đắn và cần thiết, nhưng trong điều hành, có lúc, có việc chưa thật hợp lý. Các giải pháp chống đầu cơ, buôn lậu hiệu quả chưa cao.

 Bốn là, công tác nghiên cứu dự báo và thông tin thị trường chưa được coi trọng đúng mức. Năng lực tham mưu tổng hợp về kinh tế vĩ mô chưa đáp ứng kịp yêu cầu quản lý điều hành. Đến những tháng cuối năm 2007, trong khí thế lạc quan chung về những thành tựu đạt được, vẫn nhìn nhận nhiều về thời cơ, thuận lợi, chưa phân tích dự báo được hết những khó khăn thách thức mới, nên Chính phủ vẫn trình Quốc hội thông qua chỉ tiêu tăng trưởng cao trong năm 2008 (GDP tăng từ 8,5 đến 9%, phấn đấu đạt mức cao hơn) và tốc độ tăng giá tiêu dùng thấp hơn tốc độ tăng GDP.

Năm là, công tác thông tin tuyên truyền, giải thích tình hình vẫn chưa kịp thời, chưa đủ rõ và thiếu nhất quán, nhất là trước những diễn biến mới và khi ban hành các chính sách, giải pháp có tính nhạy cảm, gây tâm tư lo lắng trong xã hội. Chưa quản lý và chỉ đạo tốt các phương tiện thông tin đại chúng tham gia thiết thực, hiệu quả trong việc thực hiện những nhiệm vụ cấp bách, quan trọng của đất nước.

Những bất cập, yếu kém nêu trên trong quản lý, điều hành của Chính phủ, cùng với những yếu kém nội sinh của nền kinh tế đã làm cho nền kinh tế nước ta dễ bị tổn thương trước những biến động bất lợi từ bên ngoài. Chính phủ đã nghiêm túc kiểm điểm, nhận rõ những kết quả đạt được, mặt mạnh, mặt tích cực, đồng thời nhìn nhận sâu sắc về những mặt bất cập, yếu kém, khuyết điểm của mình trong quản lý, điều hành.

Chính phủ đã báo cáo Bộ Chính trị và Ủy ban Thường vụ Quốc hội về tình hình kinh tế xã hội quý I, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp tiếp tục điều hành trong năm 2008 và đã khẩn trương triển khai thực hiện đồng bộ Kết luận chỉ đạo của Bộ Chính trị.

II

NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ KIỀM CHẾ LẠM PHÁT,

DUY TRÌ TĂNG TRƯỞNG BỀN VỮNG

Theo nhiều dự báo, kinh tế thế giới có xu hướng tiếp tục suy giảm, giá cả và lạm phát toàn cầu gia tăng, ảnh hưởng tiêu cực đến các nền kinh tế. Biến đổi khí hậu toàn cầu và thiên tai dịch bệnh diễn biến phức tạp. Tình hình này sẽ tác động mạnh và gây khó khăn lớn cho nền kinh tế nước ta. Trong bối cảnh đó, khả năng thực hiện một số chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2008 như mức đã xác định trước đây là không còn phù hợp.

Trên cơ sở phân tích tình hình của 4 tháng đầu năm, nhận định các mặt thuận lợi và khó khăn; đánh giá mặt mạnh, mặt yếu và khả năng thực hiện các mục tiêu nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội cả năm, Chính phủ thống nhất xác định nhiệm vụ trọng tâm cấp bách trong những tháng tiếp theo của năm 2008 là: phấn đấu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững, trong đó kiềm chế lạm phát là mục tiêu ưu tiên hàng đầu. Đây là yêu cầu nhiệm vụ rất khó khăn, đòi hỏi sự nỗ lực phấn đấu của cả hệ thống chính trị và sự đồng tâm hiệp lực của toàn dân. Chính phủ xin đề nghị Quốc hội xem xét điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng cả năm 2008 ở mức khoảng 7%; tích cực phấn đấu kiềm chế lạm phát và tốc độ tăng giá; bằng các giải pháp tổng hợp đưa tốc độ tăng giá tiêu dùng theo hướng giảm dần.

Để thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm cấp bách nêu trên, Chính phủ xác định 8 nhóm giải pháp chủ yếu cần tập trung sức chỉ đạo đồng bộ, quyết liệt trong thời gian tới như đã nêu trong báo cáo của Chính phủ gửi đến các vị đại biểu Quốc hội, tôi chỉ xin nhấn mạnh và trình bày rõ thêm một số nội dung sau đây:

1. Thực hiện chính sách tài chính, tiền tệ chặt chẽ, hiệu quả

Thực hiện chính sách tài chính chặt chẽ theo hướng hết sức tiết kiệm chi, nhất là chi thường xuyên và kiểm soát chặt đầu tư công, giảm dần bội chi  ngân sách. Thực hiện thu đúng, thu đủ theo quy định của pháp luật, phấn đấu thu ngân sách nhà nước năm 2008 vượt dự toán tối thiểu 5% để bảo đảm các nhiệm vụ chi đã bố trí trong dự toán. Dành toàn bộ các khoản thu vượt để bổ sung dự phòng ngân sách, ưu tiên chi cho việc phòng chống và khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, bù giá xăng dầu, bảo đảm an sinh xã hội.

Chính phủ đã yêu cầu tất cả các ngành, các cấp, các doanh nghiệp nhà nước thực hiện nghiêm việc rà soát, tiết kiệm 10% chi thường xuyên trong 8 tháng còn lại của năm 2008, trừ các khoản chi liên quan đến người lao động theo chế độ quy định. Cắt giảm các khoản chi cho các nhiệm vụ không thật cấp bách; tạm dừng mua sắm ô tô, phương tiện, tài sản khác có giá trị lớn và sửa chữa lớn trụ sở làm việc. Giảm tối đa việc tổ chức và chi phí cho lễ hội, hội nghị, tổng kết, sơ kết, đón nhận huân chương, danh hiệu thi đua, kỷ niệm ngày thành lập, đi tham quan khảo sát trong nước và công tác nước ngoài sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước. Giảm tối thiểu 10% mức sử dụng xăng dầu, điện, nước, điện thoại, văn phòng phẩm, vé máy bay...

Không điều chỉnh tăng tổng mức vốn đầu tư của ngân sách nhà nước năm 2008 đã giao theo mặt bằng giá mới. Các Bộ, ngành, địa phương thực hiện điều hành vốn đầu tư trong tổng mức đã giao. Chỉ bổ sung kinh phí ngoài dự toán đối với các nhiệm vụ cấp bách về an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh và phòng chống thiên tai, dịch bệnh. Kiểm soát nghiêm ngặt việc tạm ứng dự toán 2009, việc sử dụng dự phòng ngân sách và nguồn tăng thu năm 2008. Kiểm soát chặt chẽ việc chuyển nguồn chi sang năm sau đối với những nhiệm vụ thực hiện không hết dự toán trong năm 2008.

Rà soát, sắp xếp lại các dự án đầu tư theo hướng: đình hoãn khởi công các dự án không có trong quy hoạch được duyệt; các dự án chưa đủ thủ tục đầu tư xây dựng; các dự án xây dựng mới trụ sở cơ quan, hội trường, bảo tàng, nhà văn hoá đã bố trí trong kế hoạch năm 2008 nhưng chưa khởi công. Riêng đối với các dự án thật sự cần thiết, quan trọng, chỉ bố trí vốn cho công tác chuẩn bị đầu tư. Giãn tiến độ các dự án được phê duyệt hoàn thành từ năm 2007 trở về trước, nhưng đã kéo dài thời gian thi công và đến hết năm 2007 mới bố trí được dưới 50% vốn; các dự án có nhiều vướng mắc trong thủ tục đầu tư, giải phóng mặt bằng, các dự án chưa thật sự cấp bách. Điều chuyển vốn từ các dự án đình hoãn, dãn tiến độ, ngừng thi công sang các dự án có tiến độ triển khai nhanh và sắp hoàn thành. Chuyển các dự án đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước có khả năng thu hồi vốn, sang các hình thức đầu tư thích hợp khác. Tập trung nguồn vốn cho các công trình trọng điểm quốc gia và các công trình có khả năng đưa vào sử dụng trong năm nay và năm 2009.

Rà soát để cắt giảm khoảng 25% nguồn vốn đầu tư từ trái phiếu Chính phủ trong kế hoạch năm 2008; chỉ phân bổ vốn cho các dự án nằm trong danh mục đã được phê duyệt và đã chuẩn bị xong thủ tục đầu tư, kể cả đầu tư cho kiên cố trường lớp học và trung tâm y tế tuyến huyện. Cho phép giải ngân khối lượng hoàn thành vượt mức kế hoạch của các dự án có tiến độ thi công nhanh. Việc phát hành trái phiếu quốc tế của Chính phủ sẽ được xem xét thực hiện ở thời điểm thích hợp. Thu hẹp danh mục và giảm mức hỗ trợ sau đầu tư để giảm cấp bù ngân sách.

Rà soát các dự án do doanh nghiệp nhà nước triển khai đầu tư. Đình hoãn, giãn tiến độ các dự án hợp vốn nhưng chưa xác định được nguồn vốn tham gia, các dự án hiệu quả đầu tư thấp và các dự án xây mới trụ sở làm việc. Kiểm tra chặt chẽ việc đầu tư không thuộc lĩnh vực sản xuất kinh doanh chính của doanh nghiệp nhà nước, nhất là đầu tư kinh doanh tài chính, chứng khoán, ngân hàng, bảo hiểm, bất động sản.

Các Bộ, ngành, địa phương và các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ về kế hoạch thực hiện cụ thể việc rà soát điều chỉnh vốn đầu tư phát triển theo Nghị quyết của Chính phủ. Kiểm tra và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm pháp luật về sử dụng vốn đầu tư của Nhà nước.

Thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, kiểm soát chặt chẽ việc tăng tổng phương tiện thanh toán, tổng dư nợ tín dụng, nhưng phải bảo đảm tính thanh khoản của nền kinh tế và hoạt động lành mạnh của các ngân hàng. Chủ động, linh hoạt sử dụng hợp lý các công cụ chính sách tiền tệ theo nguyên tắc thị trường và áp dụng các biện pháp thích hợp để định hướng và ổn định lãi suất, hướng tới thực hiện lãi suất thực dương. Thực hiện cơ chế tỷ giá linh hoạt với biên độ thích hợp, phản ánh quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trường. Thực hiện các giải pháp thiết thực không để đô la hoá nền kinh tế. Quản lý chặt chẽ việc thành lập mới, mở chi nhánh ngân hàng và tăng cường kiểm soát, giám sát hoạt động của các ngân hàng thương mại, bảo đảm việc tuân thủ các quy định về phát hành cổ phiếu, tăng vốn điều lệ, về huy động, cho vay và chất lượng tín dụng; kịp thời phát hiện, xử lý các vi phạm để bảo đảm an toàn, ổn định của toàn hệ thống. Ngân hàng Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Chính sách Xã hội kiểm soát chặt chẽ việc cho vay, bảo đảm đúng mục đích, đúng đối tượng.

Hoàn thiện thể chế và tăng cường quản lý để phát triển lành mạnh thị trường chứng khoán; tiếp tục thực hiện tốt chương trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, điều tiết hợp lý việc tăng cung và bảo đảm chất lượng hàng hoá cho thị trường; tăng cường việc công khai minh bạch các hoạt động chứng khoán; quy định rõ phạm vi hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài; kiểm soát chặt việc cho vay kinh doanh chứng khoán và lập mới công ty chứng khoán.

Theo dõi chặt chẽ và có các giải pháp kịp thời, đồng bộ để giảm dần thâm hụt cán cân vãng lai, duy trì thặng dư cán cân vốn, giữ vững cân bằng cán cân thanh toán tổng thể của nền kinh tế cả trong ngắn hạn cũng như dài hạn. Bằng các giải pháp tăng nhanh nguồn thu ngoại tệ từ xuất khẩu, du lịch và các dịch vụ khác. Sử dụng có hiệu quả và đẩy nhanh tốc độ giải ngân nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức. Tiếp tục thu hút nhiều hơn và giải ngân nhanh nguồn vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài. Khuyến khích mạnh luồng vốn kiều hối từ nhiều nguồn khác nhau. Tạo khuôn khổ pháp lý phù hợp để giữ ổn định và hướng luồng vốn đầu tư gián tiếp của nước ngoài vào những hoạt động đầu tư dài hạn. Kiểm soát chặt chẽ vay nợ nước ngoài của doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhà nước. Hạn chế việc sử dụng ngoại tệ cho việc nhập khẩu các hàng hoá, dịch vụ chưa thật cần thiết. Tăng thêm dự trữ ngoại tệ của quốc gia. Có phương án chủ động ứng phó với những biến động bất thường trên thị trường vốn.

Thực hiện chính sách tài chính, tiền tệ thích hợp để phát triển nhanh, lành mạnh thị trường bất động sản. Chú trọng tăng nguồn cung về nhà ở cho người có thu nhập thấp và văn phòng cho thuê, khách sạn, hạ tầng khu công nghiệp để đáp ứng nhu cầu phát triển. Kiểm soát chặt chẽ việc cho vay kinh doanh bất động sản, áp dụng các chính sách thuế thích hợp, kết hợp với những biện pháp hành chính cần thiết để bảo đảm thị trường phát triển một cách cân đối, theo quy luật cung cầu, khuyến khích sử dụng có hiệu quả bất động sản, hạn chế đầu cơ, thu lợi bất chính. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố phải khẩn trương chỉ đạo rà soát, lập danh mục theo thứ tự ưu tiên các dự án đầu tư bất động sản, công khai các thông tin về quy hoạch, đồng thời tháo gỡ các vướng mắc trong quy trình thủ tục phê duyệt dự án, cấp phép xây dựng, giao đất, bồi thường giải phóng mặt bằng. Kiên quyết thu hồi các dự án chậm triển khai, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm quy định của pháp luật. Khẩn trương chuẩn bị để sớm ban hành chính sách thuế về bất động sản.

(Còn tiếp)