Thưa Ngài Yô-hêi Cô-nô, Chủ
tịch Hạ nghị viện,
Thưa Ngài Chi-ca-ghê Ô-ghi,
Chủ tịch Thượng nghị viện,
Thưa Ngài Sin-dô A-bê, Thủ
tướng Nhật Bản,
Thưa quý bà, quý vị đại biểu
lưỡng Viện,
Hôm nay, trong chuyến thăm Nhật
Bản lần đầu tiên trên cương vị Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, tôi rất vinh hạnh được phát biểu tại Quốc hội - cơ quan lập pháp
cao nhất có bề dầy lịch sử trên một trăm năm, đại diện cho toàn thể cử tri và
các chính đảng Nhật Bản. Tôi xin chân thành cảm ơn quý vị về niềm vinh dự đó và
về sự đón tiếp nồng hậu dành cho chúng tôi.
Từ diễn đàn trọng thể này, tôi
xin thay mặt Chính phủ và nhân dân Việt Nam chuyển đến quý vị và qua quý vị, đến
gần 130 triệu nhân dân Nhật Bản những tình cảm hữu nghị và những lời chúc tốt
đẹp nhất!
Cuộc gặp hôm nay là một biểu
hiện sáng tỏ mới về mối quan hệ hợp tác hữu nghị không ngừng gia tăng giữa hai
nước chúng ta.
Sự giao lưu giữa Việt Nam và
Nhật Bản không phải ngày nay mới có mà nó đã nảy nở từ xa xưa nhờ sự gần gũi về
địa lý và sự tương đồng về văn hóa. Ngay từ thế kỷ 17-18 nhiều thương thuyền
Nhật Bản đã cập bến để làm ăn buôn bán tại Phố Hiến ở miền Bắc và Hội An ở miền
Trung Việt Nam, để lại nhiều di tích văn hóa Nhật Bản, kể cả gốm sứ Hi-dên.
Thành công của cuộc Canh tân Minh Trị đã có sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với nhiều
chí sĩ Việt Nam, làm dấy lên Phong trào Đông Du vào đầu thế kỷ 20 với ước vọng
học tập kinh nghiệm Nhật Bản trong công cuộc chấn hưng dân tộc.
Vượt lên trên những thăng trầm
của lịch sử, năm 1973, hai nước đã thiết lập quan hệ ngoại giao, mở đầu quá
trình bình thường hoá quan hệ Việt - Nhật. Với truyền thống nhân nghĩa, hòa hiếu,
nhân dân Việt Nam đã gác lại quá khứ, hướng tới tương lai và thể theo ý nguyện
của nhân dân, Chính phủ chúng tôi đã dành ưu tiên cao cho việc mở rộng và tăng
cường sự hợp tác về nhiều mặt với quý quốc - một nước có nền kinh tế lớn thứ hai
thế giới, có vai trò quan trọng ở Châu Á - Thái Bình Dương và trên phạm vi toàn
cầu.
Chúng ta có đầy đủ căn cứ để
hài lòng rằng, từ đầu những năm 90 của thế kỷ trước, quan hệ giữa hai nước đã
sang trang với những bước phát triển mạnh mẽ cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.
Quan hệ chính trị sôi động,
những cuộc tiếp xúc thường xuyên giữa lãnh đạo Chính phủ, Quốc hội, các ngành,
các giới, các địa phương đã trở thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy sự hợp tác về
mọi mặt giữa hai nước. Đặc biệt, năm 2002 nhân chuyến thăm Nhật Bản của Tổng Bí
thư Nông Đức Mạnh, lãnh đạo hai nước đã nhất trí xây dựng mối quan hệ “đối tác
tin cậy, ổn định lâu dài”; theo đó, các cơ chế đối thoại về chính trị, ngoại
giao, kinh tế, an ninh đã được hình thành và hoạt động hữu hiệu.
Nhật Bản là đối tác hàng đầu
của Việt Nam về kinh tế và thương mại. Mối quan hệ ngày càng mở rộng về mặt này
đã đặt nền móng vật chất cho sự hợp tác bền vững giữa hai nước chúng ta. Kim
ngạch buôn bán hai chiều gia tăng nhanh chóng và tương đối cân bằng. Đầu tư của
Nhật Bản không ngừng gia tăng, đứng đầu về số vốn thực hiện và có hiệu quả nhất
ở Việt Nam. Điều đó chứng tỏ các doanh nghiệp thấy rõ Việt Nam là một đối tác
đầy tiềm năng ở vị trí địa chính trị và địa kinh tế thuận lợi, phát triển nhanh
chóng, xã hội ổn định, lực lượng lao động dồi dào, năng động.
Đặc biệt, Nhật Bản là nước dành
viện trợ phát triển song phương lớn nhất cho Việt Nam và sự viện trợ đó đã được
sử dụng đúng mục đích, với hiệu quả cao, chất lượng tốt và cùng với công nghệ
cao và kinh nghiệm quản lý kinh tế tiên tiến của Nhật Bản đã và đang góp phần
quan trọng vào việc thực hiện thành công những nhiệm vụ kinh tế - xã hội của
Việt Nam, đồng thời tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp Nhật Bản làm ăn kinh
doanh ở đất nước chúng tôi.
Có thể nói, những con đường,
những chiếc cầu, những bến cảng biển và hàng không, những ngôi trường, bệnh viện,
những nhà máy… có chất lượng cao được xây dựng với sự trợ giúp của Nhật Bản đã
trở thành những biểu tượng đẹp đẽ về sự hợp tác giữa hai nước.
Nhân đây tôi muốn khẳng định
với quý vị rằng, Việt Nam được coi là nước sử dụng có hiệu quả nhất nguồn viện
trợ phát triển chính thức (ODA). Vừa qua có xảy ra vụ tiêu cực tại một Ban Quản
lý dự án thuộc Bộ Giao thông vận tải Việt Nam, vốn quản lý nhiều dự án, trong đó
có một số dự án sử dụng ODA của Nhật Bản. Vụ việc này đang được các cơ quan chức
năng Việt Nam điều tra để xử lý minh bạch và công khai. Song tôi có thể khẳng
định với quý vị rằng, vụ việc tiêu cực này không làm ảnh hưởng đến chất lượng
các công trình được xây dựng với sự giúp đỡ của quý quốc vì các công trình này
đều được các cơ quan có trách nhiệm của hai bên thẩm định và phê duyệt dự án,
lựa chọn nhà thầu tư vấn và nhà thầu thi công, giám sát quá trình thi công,
nghiệm thu, giải ngân… theo đúng cam kết của hai bên và đã đạt yêu cầu chất
lượng của dự án mà hai bên đã phê duyệt. Chính phủ Việt Nam đặc biệt coi trọng
việc chống thất thoát, chống tham nhũng trong quá trình sử dụng những khoản viện
trợ quý báu của bạn bè. Chúng tôi nhận thức rõ trách nhiệm của mình đối với việc
sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ODA của Nhật Bản; đây cũng là trách nhiệm của
chúng tôi đối với đất nước và nhân dân mình cả hiện nay cũng như sau này trong
việc trả nợ. Quý vị có thể tin tưởng rằng, sự tài trợ của Nhật Bản dành cho Việt
Nam được đặt vào những bàn tay tin cậy.
“Uống nước nhớ nguồn” như người
Việt Nam thường nói hoặc “uống nước nhớ người đào giếng” như cách nói của người
Nhật, chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với Quốc hội, Chính phủ
Nhật Bản và nhân dân Nhật Bản về tấm lòng và cử chỉ hào hiệp thể hiện trong việc
duy trì và gia tăng viện trợ ODA cho Việt Nam trong khi cắt giảm tổng số viện
trợ cho nước ngoài.
Chúng tôi hài lòng thấy rằng,
sự hợp tác về văn hóa, khoa học - công nghệ, giáo dục đào tạo, du lịch giữa hai
nước đã tạo nên nền tảng tinh thần, cho mối quan hệ gần gũi giữa nhân dân hai
nước. Tham khảo kinh nghiệm thực thi chính sách “giáo dục lập quốc” trong những
năm Canh tân Minh Trị, chúng tôi rất coi trọng sự nghiệp giáo dục và đánh giá
cao sự trợ giúp của Nhật Bản về mặt này, với việc xây dựng hàng trăm ngôi trường,
tiếp nhận hàng nghìn sinh viên và tu nghiệp sinh Việt Nam sang học tập, đào tạo
ở Nhật Bản. Họ chẳng những là nguồn nguyên khí của đất nước chúng tôi mà còn là
cầu nối giữa hai dân tộc !
Song song với sự hợp tác song
phương, hai nước chúng ta còn hợp tác với nhau trên các vấn đề quốc tế và tại
nhiều diễn đàn đa phương như Liên hợp quốc, APEC, ASEM, Đông Á, ASEAN + 3 hay
ASEAN + 1. Về phần mình, chúng tôi nhất quán ủng hộ Nhật Bản trở thành Ủy viên
thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc phù hợp với tiềm lực kinh tế và những
đóng góp cho tổ chức toàn cầu này. Chúng tôi đánh giá cao việc quý quốc luôn
luôn ủng hộ Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới, tạo thuận lợi cho
chúng tôi hội nhập với nền kinh tế quốc tế.
Chúng tôi nghĩ, những gì đã đạt
được trong quan hệ hai nước là rất có ý nghĩa song tiềm năng hợp tác còn rất lớn.
Dựa trên những thành tựu đã đạt được, chúng ta cần nâng quan hệ đối tác tin cậy
về nhiều mặt lên tầm cao mới mang tính chiến lược, ổn định lâu dài vì lợi ích
hòa bình, ổn định và hợp tác để phát triển trong khu vực và trên thế giới.
Tôi trông đợi cuộc Hội đàm quan
trọng với Ngài Thủ tướng Sin-dô A-bê vào chiều nay nhằm xác định những phương
hướng phát triển của mối quan hệ đó trong tương lai. Chúng tôi mong quý vị đại
biểu Quốc hội Nhật Bản nhiệt tình ủng hộ những thỏa thuận giữa hai Chính phủ !
Thưa quý vị,
Chuyến thăm của chúng tôi diễn
ra vào năm 2006, một năm đặc biệt đối với Việt Nam, vì đúng 20 năm trước đây
chúng tôi đã khởi động công cuộc đổi mới làm thay đổi hẳn diện mạo đất nước.
Việt Nam chẳng những đã ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội vào cuối những
năm 80 thế kỷ trước mà còn liên tục tăng trưởng với tốc độ cao từ 7-8% trong
suốt 20 năm; cuộc sống của nhân dân không ngừng được cải thiện; các lĩnh vực văn
hóa xã hội, nhất là công cuộc xóa đói giảm nghèo đạt được nhiều tiến bộ; an ninh
chính trị và an toàn xã hội được giữ vững, quan hệ quốc tế không ngừng được mở
rộng.
Vừa qua, ở Việt Nam đã diễn ra
sự sắp xếp lại lãnh đạo Nhà nước và Chính phủ song đường lối đổi mới được thực
tế chứng minh là hoàn toàn đúng đắn sẽ không thay đổi. Điều đó đã được khẳng
định mạnh mẽ tại Đại hội lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam và kỳ họp Quốc hội
diễn ra sau đó.
Chúng tôi sẽ tiếp tục kết hợp
hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với việc giải quyết các vấn đề xã hội, nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực, thu hẹp khoảng cách về thu nhập giữa các tầng lớp dân
cư và vùng miền, bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái đi đôi với việc giữ
vững sự ổn định chính trị, xã hội.
Chúng tôi sẽ kiên trì chủ
trương phát triển kinh tế nhiều thành phần, kết hợp hài hòa giữa việc đổi mới
mạnh mẽ doanh nghiệp nhà nước với việc khuyến khích sự phát triển của các thành
phần kinh tế khác, kể cả kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư của nước ngoài
mà chúng tôi coi là bộ phận cấu thành của kinh tế Việt Nam.
Chúng tôi sẽ hoàn thiện thể chế
kinh tế thị trường đi đôi với việc tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước, xây
dựng Nhà nước pháp quyền, mở rộng dân chủ, thúc đẩy cải cách hành chính, ra sức
tạo môi trường sản xuất, kinh doanh thuận lợi nhất, đồng thời kiên quyết chống
tham nhũng, lãng phí, quan liêu.
Với những chủ trương trên chúng
tôi sẽ ra sức phấn đấu đạt mục tiêu ngắn hạn là đưa Việt Nam ra khỏi tình trạng
kém phát triển vào năm 2010, nâng thu nhập tính theo đầu người từ 640 USD năm
2005 lên trên 1000 USD, tiến tới mục tiêu trung hạn biến Việt Nam về cơ bản trở
thành nước công nghiệp vào năm 2020 và mục tiêu dài hạn là thực hiện “dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Chúng tôi sẽ huy động tối đa
mọi nguồn lực trong nước, đồng thời ra sức tranh thủ các nguồn lực từ bên ngoài,
trong đó Nhật Bản ở vị trí đặc biệt quan trọng. Chúng tôi trông đợi ở sự ủng hộ
nhiệt tình và sự trợ giúp hào hiệp của Nhật Bản thông qua việc hỗ trợ ODA cho
các công trình, dự án quan trọng có ý nghĩa rất quyết định đối với sự phát triển
của đất nước chúng tôi, nhất là các dự án mở rộng nâng cấp đường bộ và đường sắt
Bắc-Nam phù hợp với vai trò của Nhật Bản là một đối tác chiến lược của Việt Nam.
Đồng thời chúng tôi trông đợi và tạo mọi điều kiện thuận lợi thu hút làn sóng
đầu tư mới từ Nhật Bản vào mọi lĩnh vực, nhất là công nghệ cao để hai bên cùng
có lợi, cùng phát triển.
Thưa quý vị,
Chúng tôi sẽ kiên trì đường lối
đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, thực thi chính sách đa dạng hóa, đa phương
hóa quan hệ quốc tế, nỗ lực góp phần phấn đấu cho hòa bình, hợp tác giữa các
quốc gia trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, bình đẳng, cùng có
lợi. Là một dân tộc đã từng phải gánh chịu những mất mát lớn lao do chiến tranh,
hơn ai hết nhân dân Việt Nam tha thiết với hoà bình cho mình và cho mọi dân tộc.
Chúng tôi xin chia sẻ mối lo ngại sâu sắc của nhân dân Nhật Bản và cộng đồng
quốc tế trước diễn biến gần đây trên bán đảo Triều Tiên. Trước sau như một Việt
Nam kiên trì lập trường phi hạt nhân hoá ở khu vực này và phản đối việc thử vũ
khí hạt nhân. Chúng tôi cho rằng các bên cần tuân thủ Tuyên bố chung và các nghị
quyết 1695 và 1718 của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc, sớm nối lại cuộc đàm phán
sáu bên để làm dịu căng thẳng và giải quyết hoà bình vấn đề hạt nhân trên bán
đảo Triều Tiên.
Chúng tôi biết rõ Quốc hội quý
quốc luôn dành mối quan tâm sâu sắc đối với Việt Nam. Minh chứng cho điều đó là
việc hình thành Liên minh nghị sĩ hữu nghị Nhật - Việt thu hút trên 100 quý vị
nghị sĩ tham gia. Từ diễn đàn trọng thể này, tôi xin trân trọng kêu gọi quý vị
nghị sĩ Quốc hội Nhật Bản kề vai sát cánh với nhân dân chúng tôi trong sự nghiệp
phát triển đất nước, một sự nghiệp không chỉ mang lại phúc lợi cho nhân dân Việt
Nam mà còn đem lại lợi ích cho cả Nhật Bản cũng như cho sự nghiệp hòa bình, hợp
tác phát triển của châu Á - Thái Bình Dương!
Xin cảm ơn quý vị, chúc quý vị
mạnh khỏe, hạnh phúc, thành đạt, chúc Nhật Bản hòa bình, phồn vinh, chúc nhân
dân Nhật Bản hạnh phúc.
Xin trân trọng cảm ơn.