 |
|
Ảnh minh họa
|
Việt Nam đã trải qua hơn 4/5 chặng đường thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ và đang nỗ lực phấn đấu thực hiện thành công các Mục tiêu vào năm 2015.
Các Mục tiêu liên quan đến lĩnh vực y tế cho giai đoạn từ 1990 đến 2015 bao gồm: Giảm 1/2 tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em; giảm 2/3 tỉ suất tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi; giảm 3/4 tỷ số tử vong mẹ; phổ cập tiếp cận chăm sóc sức khỏe sinh sản; chặn đứng và bắt đầu đẩy lùi sự lây lan của HIV/AIDS vào năm 2015; thực hiện tiếp cận phổ cập tới điều trị HIV/AIDS cho tất cả những người có nhu cầu vào năm 2010; chặn đứng và bắt đầu giảm số trường hợp mắc sốt rét và các bệnh phổ biến khác vào năm 2015; giảm 1/2 tỷ lệ người dân không được tiếp cận nước an toàn và điều kiện vệ sinh cơ bản.
Trong những năm qua, Việt Nam đã nỗ lực thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ trong lĩnh vực y tế và đạt nhiều thành tựu đáng ghi nhận, được quốc tế đánh giá cao.
Lồng ghép các chỉ tiêu vào kế hoạch phát triển KTXH của các địa phương
Để khắc phục các khó khăn, thách thức, tạo sự thêm sức bật để Việt Nam thực hiện thành công các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc trong lĩnh vực y tế vào năm 2015, đồng thời duy trì bền vững và tiếp tục phát huy các kết quả đạt được sau năm 2015, Chính phủ yêu cầu các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nâng cao nhận thức, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, chính quyền các cấp về thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ trong lĩnh vực y tế.
Bên cạnh đó, lồng ghép các chỉ tiêu về thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ về y tế vào kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của các địa phương, nhất là đối với các tỉnh miền núi, vùng đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số có các chỉ tiêu Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ về y tế thấp hơn so với bình quân chung của cả nước. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đối với thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ về y tế.
Tăng cường huy động các nguồn đầu tư
Nghị quyết nêu rõ, tăng cường đầu tư từ ngân sách Trung ương và địa phương thông qua nguồn vốn chi thường xuyên, vốn đầu tư, các chương trình mục tiêu quốc gia để tập trung thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ về y tế chưa đạt được (tử vong mẹ và trẻ em, phòng chống HIV/AIDS) và duy trì bền vững các mục tiêu khác về y tế (suy dinh dưỡng trẻ em, phòng chống lao, sốt rét, nước sạch và vệ sinh môi trường). Huy động nguồn tài chính cho các chương trình, dự án khi các nguồn tài trợ nước ngoài cắt giảm (phòng, chống HIV/AIDS, lao, sốt rét...).
Tiếp tục huy động sự hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để tăng cường nguồn đầu tư cho việc thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ về y tế.
Ưu tiên đầu tư để thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ về y tế ở khu vực vùng núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và các vùng trọng điểm khác.
Tiếp tục quan tâm củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế, nhất là y tế cơ sở ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng hải đảo cả về cơ sở vật chất, trang thiết bị và nhân lực; củng cố và đổi mới công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu, thực hiện các giải pháp để hướng đến mọi người dân được chăm sóc sức khỏe.
Triển khai có hiệu quả các giải pháp chuyên môn kỹ thuật
Cũng theo Nghị quyết, cần triển khai có hiệu quả các các giải pháp chuyên môn kỹ thuật để đạt được các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ về y tế. Trong đó, về giảm suy dinh dưỡng trẻ em, cần triển khai các giải pháp can thiệp đặc hiệu để cải thiện tình trạng dinh dưỡng, nâng cao thể lực và thể chất của người dân ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và các nhóm đối tượng có nguy cơ khác; ưu tiên các can thiệp trọn gói về thực phẩm và bổ sung vi chất dinh dưỡng, đầu tư triển khai chương trình "sữa học đường" cho các vùng nghèo, khó khăn và vùng thường xảy ra thiên tai. Triển khai các giải pháp bền vững nhằm giảm suy dinh dưỡng thể thấp còi và tình trạng thừa cân, béo phì.
Bên cạnh đó, triển khai các giải pháp chăm sóc sức khỏe, dinh dưỡng hợp lý cho bà mẹ trước, trong và sau khi sinh con; thực hiện các chương trình nuôi con bằng sữa mẹ; cho ăn bổ sung hợp lý; tăng cường bổ sung vi chất hợp lý cho phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ, đặc biệt phụ nữ có thai, trẻ nhỏ; ưu tiên cho vùng dân tộc và miền núi, bà mẹ, trẻ em vùng đặc biệt khó khăn.
Về giảm tử vong trẻ em và nâng cao sức khỏe bà mẹ, nhân rộng các mô hình can thiệp đã được đánh giá có hiệu quả trong việc giảm tử vong mẹ, tử vong trẻ em như mô hình "chuyển tuyến dựa vào cộng đồng", mô hình "chăm sóc bà mẹ - trẻ sơ sinh liên tục từ gia đình, cộng đồng đến cơ sở y tế", mô hình "ngôi nhà an toàn, lớp học an toàn, cộng đồng an toàn cho trẻ em”.
Về phòng chống HIV/AIDS, mở rộng và nâng cao chất lượng các hoạt động dự phòng lây nhiễm HIV, chú trọng vùng có nguy cơ cao, vùng dân tộc và miền núi; đẩy mạnh điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế theo Nghị đinh số 96/2012/NĐ-CP ngày 15/11/2012 của Chính phủ; quản lý, vận động và hỗ trợ người nhiễm HIV tiếp cận các dịch chăm sóc và điều trị sớm; tăng cường triển khai điều trị bằng thuốc ARV sớm cho các trường hợp nhiễm HIV, triển khai điều trị dự phòng sớm cho một số nhóm đối tượng.
Hoàng Diên